Cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số

Kỳ Văn
Chuyển đổi số (Digital transformation) trong doanh nghiệp được hiểu là việc tích hợp, áp dụng công nghệ số để nâng cao hiệu quả kinh doanh, hiệu quả quản lý, nâng cao năng lực, sức cạnh tranh của doanh nghiệp và tạo ra các giá trị mới. Nghiên cứu này nhằm đánh giá, phân tích những cơ hội và thách thức đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp của Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, từ đó, đưa ra các khuyến nghị để phát huy hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam thời gian...
vnp-chuyen-doi-so-1653655988.jpg
Ảnh minh họa. Nguồn Internet

Đặt vấn đề

Hoạt động chuyển đổi số trong doanh nghiệp (DN) có thể bao gồm từ việc số hóa dữ liệu quản lý, kinh doanh của DN, áp dụng công nghệ số để tự động hóa, tối ưu hóa các quy trình nghiệp vụ, quy trình quản lý, sản xuất kinh doanh, quy trình báo cáo, phối hợp công việc trong DN cho đến việc chuyển đổi toàn bộ mô hình kinh doanh, tạo thêm giá trị mới cho DN. Hoặc có thể hiểu chuyển đổi số là ứng dụng những tiến bộ về công nghệ số như: Điện toán đám mây (cloud), dữ liệu lớn (Big data), Internet vạn vật (IoT) và trí tuệ nhân tạo (AI)... vào mọi hoạt động của tổ chức, DN.

Theo Báo cáo của Google, Temasek và Bain Company (2020) với sự gia tăng thói quen sửdụng các dịch vụtrực tuyến của người dùng cánhân và DN, thanh toán kỹ thuật số tiếp tục tăng trưởng từ 600 tỷ USD vào năm 2019 lên 620 tỷ USD vào năm 2020 và dự kiến đạt 1,2 nghìn tỷ USD vào năm 2025. Chính phủ Việt Nam đã nhìn nhận chuyển đổi số có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam ở hiện tại và tương lai. Việt Nam là một trong các quốc gia đang dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng kinh tế số trong khu vực Đông Nam Á. Việt Nam trở thành thị trường đón nhận nguồn đầu tư đứng thứ 3 trong khu vực sau Indonesia và Singapore trong những năm gần đây. Chuyển đổi số sẽ đẩy mạnh việc tham gia vào chuỗi công nghệ toàn cầu đối với các DN Việt Nam.

Hiện nay, cả nước có khoảng 870 nghìn DN đang hoạt động với khoảng 97% DN ở quy mô nhỏ và vừa, và hoạt động chuyển đổi số trong DN đã diễn ra mạnh mẽ trong thời gian qua nhằm đáp ứng sự thay đổi trong hành vi của khách hàng cũng như nhu cầu quản lý trong bối cảnh mới. Trong một nghiên cứu của Trung tâm kinh doanh toàn cầu của Đại học Tufts (Mỹ) đã cho thấy, Việt Nam đang đứng ở vị trí 48/60 quốc gia có tốc độ chuyển đổi số nhanh trên thế giới, đồng thời đứng ở vị trí 22 về tốc độ phát triển số hóa. Điều này đã chứng tỏ sự thay đổi lớn trong mô hình kinh doanh của các DN Việt Nam. Tuy nhiên, trong điều kiện cạnh tranh toàn cầu gia tăng, hoạt động quản trị DN của các DN Việt Nam sẽ đối mặt với rất nhiều thách thức. Do đó, nếu các DN Việt Nam không chuyển đổi số hiệu quả thì sẽ mất lợi thế cạnh tranh cũng như mất thị trường ngay trên sân nhà.

Cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số  - Ảnh 1

Cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số

Cơ hội

Bối cảnh chuyển đổi số mang lại nhiều cơ hội cho DN như:

Thứ nhất, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN.

Với sự trợ giúp của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), nền tảng của chuyển đổi số sẽ làm tăng thêm tính cạnh tranh cho các DN, cho phép các công ty dễ dàng cung cấp cho khách hàng sự hiện diện toàn cầu. Internet có xu thế tạo lợi nhuận cho cả công ty lớn và nhỏ. Thông qua các website của mình, các công ty nhỏ cũng có thể đạt được một doanh thu như một công ty lớn mà điều này dường như không tưởng trong môi trường thương mại truyền thống. Nếu nhìn ở một khía cạnh khác thì khi tiến hành chuyển đổi số, DN có thể đáp ứng rất nhanh các yêu cầu của khách hàng, có thể cung cấp các dịch vụ tư vấn và thông tin về sản phẩm về cách hướng dẫn sử dụng cho khách hàng.

Kết quả khảo sát của Bộ Công Thương năm 2021 cho thấy, mạng xã hội vẫn là một kênh đem lại hiệu quả kinh doanh cao nhất cho DN (năm 2020 có 37% DN đánh giá cao hiệu quả kinh doanh thông qua các mạng xã hội). Tiếp sau đó là website của DN và ứng dụng di động là hai nền tảng được DN đánh giá đem lại hiệu quả cao ở mức ngang nhau (23%). Ngày 09/3/2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 316/QĐ-TTg phê duyệt triển khai thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ (Mobile Money), điều này sẽ mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh doanh và thanh toán điện tử cho các DN.

Cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số  - Ảnh 2

Trước đó, năm 2018 cũng có tới 88% DN tham gia khảo sát cho biết có sử dụng phần mềm kế toán tài chính (tỷ lệ này hàng năm không có sự chênh lệch nhiều và giao động trong khoảng 85% - 90%). Ngoài ra, nhóm phần mềm chuyên sâu ở mức cao hơn một chút như quản lý quan hệ khách hàng CRM), quản lý chuỗi cung ứng (SCM) và quản trị nguồn lực DN (ERP) cũng bắt đầu được chú trọng. Chuyển đổi số cũng giúp các DN nâng cao hiệu quả của hoạt động quản trị, bằng việc triển khai các hệ thống quản trị dựa trên nền tảng số hoá và internet, giúp cho các DN có thể ra các quyết định quản trị ngay lập tức, phản ứng nhanh được với các thay đổi của môi trường kinh doanh.

Theo khảo sát của Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2022 cho thấy, đối với các DN đang tăng trưởng và có nhu cầu chuyển đổi số để tăng tốc, nhu cầu lớn nhất của các DN trong giai đoạn này là giải pháp về Phân tích dữ liệu, báo cáo thông minh (BI, Big Data, Data warehouse) với 63,5% tổng số DN tham gia khảo sát lựa chọn. 60,7% tổng số DN khảo sát có nhu cầu về giải pháp về Quản lý hệ thống khách hàng (CRM) và quản lý kênh bán hàng (Omni Channel Sales). Hai giải pháp còn lại bao gồm Hệ thống hoạch định tài nguyên doanh nhiệp (ERP) và An toàn dữ liệu (Database & Security) có nhu cầu tương đương nhau với lần lượt 57,8% và 50,2% số DN tham gia khảo sát lựa chọn.

Chuyển đối số còn giúp các DN tối ưu hóa quy trình, sắp xếp hợp lý các quy trình công việc, quy trình kỹ thuật số và các tác vụ tự động là tất cả các cách tổ chức có thể tạo ra hiệu quả và đặc biệt trong giai đoạn COVID-19 đang xảy ra trên toàn cầu.

Thứ hai, mở rộng thị trường và thiết lập quan hệ đối tác.

Chuyển đổi số tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa các đối tác tham gia vào quá trình thương mại. Thông qua mạng các DN có thể giao tiếp trực tiếp và liên tục với nhau. Nhờ đó mà sự hợp tác lẫn sự quản lý đều được tiến hành nhanh chóng và liên tục. Các bạn hàng mới, các cơ hội kinh doanh mới được phát hiện nhanh chóng trên phạm vi quốc gia, quốc tế và có nhiều cơ hội để lựa chọn hơn. Báo cáo thường niên về Kinh tế số Đông Nam Á (SEA) 2020 của Google, Temasek và Bain Company cho thấy, lượng khách hàng tham gia các nền tảng số tăng 41% ở Việt Nam - mức cao nhất trong khu vực Đông Nam Á hiện nay. DN có thể tìm thấy 74% khách hàng mới trên các nền tảng số ở các khu vực đô thị và các nhóm hàng hóa, dịch vụ được giao dịch qua Internet hay các nền tảng số cũng ngày càng gia tăng về tỷ lệ và số lượng. Doanh thu thương mại điện điện tử doanh nghiệp với khách hàng (B2C) cũng liên tục tăng mạnh trong 5 năm qua. Cụ thể, nếu như năm 2016, con số này mới chỉ đạt 5 tỷ USD thì đến năm 2019, mức doanh thu đã tăng gấp đôi, đạt hơn 10 tỷ USD và năm 2020 là 11,8 tỷ USD, với mức tăng trưởng 18% so với năm trước (theo sách trắng Thương mại điện tử 2021).

Thứ ba, giúp DN có sự chuyển hướng các hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên nền tảng số.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của ICT và chuyển đổi số trong thời kỳ mới, Đảng và Chính phủ Việt Nam quyết tâm đẩy mạnh ứng dụng ICT trong các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Cụ thể như: Bộ Chính trị đã thông qua Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với mục tiêu tổng quát là “Tận dụng có hiệu quả các cơ hội do cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại để thúc đẩy quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với thực hiện các đột phá chiến lược và hiện đại hoá đất nước; phát triển mạnh mẽ kinh tế số; phát triển nhanh và bền vững dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao; nâng cao chất lượng cuộc sống, phúc lợi của người dân; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường sinh thái.

Thực tế tại Việt Nam thời gian qua đã cho thấy, sự phát triển mạnh mẽ của các dịch vụ tài chính như: Mobile Banking, Mobile Commerce, E – Commerce… và các ngành dịch vụ theo kịp cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0... hạ tầng phục vụ chuyển đổi số cũng ngày càng được hoàn thiện với những nỗ lực cả từ Chính phủ, DN và người dân. Việt Nam được đánh giá là thị trường thương mại điện tử năng động bậc nhất tại khu vực Đông Nam Á.

Thách thức

Bên cạnh các cơ hội, DN cũng đứng trước các thách thức từ bối cảnh chuyển đổi số mang lại như:

Thứ nhất, năng lực và nguồn lực của DN Việt Nam còn hạn chế.

Nguồn nhân lực về công nghệ số, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông vẫn là vấn đề được nhiều DN chú trọng nhưng vẫn là thách thức đối với các DN Việt Nam. Kết quả khảo sát của Bộ Công Thương đã năm 2019 cho thấy, tỷ lệ DN gặp khó khăn khi tuyển dụng lao động có kỹ năng về công nghệ thông tin vẫn dao động trên dưới 30% và không có sự thay đổi lớn (năm 2018 có 28% DN cho biết gặp khó khăn khi tuyển dụng lao động có kỹ năng này, năm 2017 là 31% và năm 2016 là 29%). Theo khảo sát của Hiệp hội Phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin Việt Nam (Vinasa) tại Ngày Chuyển đổi số Việt Nam 2020 cho thấy, 69% DN được khảo sát không biết lựa chọn đối tác nào để triển khai chuyển đổi số, 72% không biết bắt đầu từ đâu, 92% không biết chuyển đổi số như thế nào.

Theo Báo cáo chuyển đổi số DN 2021 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì có đến 60,1% DN tham gia khảo sát cho biết rào cản mà họ gặp phải khi áp dụng công nghệ số là bởi chi phí đầu tư, ứng dụng công nghệ còn cao, ảnh hưởng đến chi phí đầu tư, triển khai, duy trì các giải pháp cho chuyển đổi số cho chuyển đổi số.

Thứ hai, nhận thức của DN về chuyển đổi số còn yếu.

Tại nhiều DN Việt Nam, việc ứng dụng công nghệ đặc biệt công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động quản trị DN còn rất nhiều hạn chế, nhiều chủ DN chưa nhận thức đầy đủ vai trò của công nghệ trong quản trị DN trong bối cảnh nền kinh tế số với áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt. Một điểm đặc biệt là trong 3 năm liên tiếp trở lại đây, khai báo thuế vẫn là dịch vụ công trực tuyến được DN sử dụng nhiều nhất và đều chiếm 88% trong tổng số DN tham gia khảo sát, tiếp sau đó là dịch vụ đăng ký kinh doanh (chiếm 51% và tăng tới 9% so với năm 2017). Các dịch vụ công trực tuyến khác như thủ tục cấp giấy chứng nhận xuất xứ điện tử, khai báo hải quan... đều có mức độ sử dụng của DN rất thấp.

Theo khảo sát của Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2022 cho thấy, có nhiều khó khăn trong thay đổi thói quen, tập quán kinh doanh của DN cũng là rào cản khiến DN gặp phải, chiếm tỷ lệ 52,3% số DN khảo sát. Việc chuyển đối số sẽ thay đổi thói quen và cách làm việc của người lao động. Một số DN đã ứng dụng phần mềm nhưng nhân viên, người lao động không ứng dụng, hoặc chỉ ứng dụng một phần, khiến mục tiêu chuyển đổi số của DN không đạt được mục tiêu đề ra.

Thứ ba, còn nhiều e ngại trong ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào hoạt động kinh doanh.

Sự bùng nổ của kinh tế số cũng đặt các DN Việt Nam trước nhiều thách thức trong đó có vấn đề về mặt pháp lý, an toàn tấn công mạng về việc đảm bảo quyền riêng tư của người dùng. Theo thống kê của hãng bảo mật Kaspersky, năm 2017 có 35,01% nguời dùng Internet Việt Nam có khả năng bị tấn công mạng, xếp thứ 6 thế giới. Trung tâm ứng cứu sự cố máy tính Việt Nam (VNCERT) cho biết, có tổng cộng 10.000 vụ tấn tấn công mạng nhằm vào Internet Việt Nam năm 2017, gây thất thoát 12,3 nghìn tỷ đồng.

Thứ tư, hệ thống pháp luật điều tiết lĩnh vực này còn chồng chéo, chưa hoàn chỉnh.

Hệ thống pháp lý còn thiếu, còn chưa bắt kịp được với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông, hoặc còn chồng chéo dẫn đến hiệu lực hiệu quả thấp. Điều đó ảnh hưởng tới sự quyết tâm chuyển đổi sang nền kinh tế số của DN nói chung và hoạt động quản trị DN nói riêng ít nhiều bị ảnh hưởng.

Đề xuất, khuyến nghị

Trên cơ sở những tồn tại, thách thức vừa nêu, bài viết đề xuất các giải pháp để phát huy hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam thời gian tới gồm:

Đối với cơ quan quản lý nhà nước

- Tạo môi trường, tăng cường tuyên truyền, đẩy mạnh hỗ trợ cho các DN chuyển đổi số: Việt Nam cần chú trọng là xây dựng nền tảng, thể chế cho các mô hình kinh doanh kinh tế số, trong đó sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật cho các ngành đang có nhiều mô hình kinh doanh mới như thương mại điện tử, tài chính số, ngân hàng số... Cải cách thể chế để thu hút đầu tư cho các công nghệ số trong các lĩnh vực đầu tư theo hướng tạo thuận lợi tối đa cho các hoạt động góp vốn, mua cổ phần, mua bán sáp nhập DN công nghệ số… Cần tạo được khung pháp lý, môi trường cần thiết để đẩy mạnh chuyển đổi số, hỗ trợ DN phát triển.

- Hỗ trợ DN nâng cao chất lượng nhân lực: Tăng cường đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho công cuộc chuyển đổi số. Khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư các cơ sở đào tạo. Tăng cường loại hình đào tạo chuyên gia, kỹ thuật viên, đào tạo nghề, mô hình đào tạo liên kết 3 bên (DN - viện, trường - cơ quan quản lý nhà nước).

Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực để hình thành đội ngũ chuyên ngành thương mại điện tử, an ninh mạng, công nghệ thông tin, truyền thông... chuẩn bị cho quá trình chuyển đổi số là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của nền kinh tế số.

- Phát triển hạ tầng chuyển đổi số: Muốn thành công trong chuyển đổi số thì phải có cơ sở hạ tầng đủ mạnh, đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của các ứng dụng. Chính phủ cần tập trung xây dựng, phát triển hạ tầng số đáp ứng yêu cầu trao đổi thông tin, hạ tầng số sử dụng các công nghệ tiên tiến, đảm bảo an toàn, an ninh thông tin. Các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương phải được kết nối mạng diện rộng của Chính phủ và Internet băng thông rộng, đủ năng lực cung cấp các dịch vụ công, và các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, từng bước xây dựng chính phủ điện tử.

Đối với doanh nghiệp

- Chủ động chuyển đổi quản trị DN trong bối cảnh chuyển đổi số. Các DN Việt Nam cần xác định rằng trong bối cảnh chuyển đổi số và cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, nếu DN không chuyển mình bắt kịp xu hướng thì sẽ bị tụt hậu và bật khỏi môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt.

- Điều chỉnh chiến lược phát triển DN trong bối cảnh chuyển đổi số. Cần có lộ trình cụ thể từ lập kế hoạch, triển khai theo từng giai đoạn cả về công nghệ, nhân lực cho phù hợp với thực trạng của DN.

- Ngoài nhận thức được tầm quan trọng của chuyển đổi số và quản trị DN bằng công nghệ số thì còn phải có sự quyết tâm sâu sắc, thực hiện bằng được mới có thể để cho cả bộ máy quản trị của doanh nghiêp vận hành tốt nhằm đạt được các mục tiêu phát triển bền vững của DN.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27-9-2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0);

2. Bộ Công Thương (2022), Sách trắng về thương mại điện tử 2021;

3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2022), “Báo cáo chuyển đổi số DN 2021: Rào cản và nhu cầu chuyển đổi số”;

4. Google, Temasek và Bain Company (2020), e-Conomy SEA 2020;

5. Các trang Web: http://ictnews.vn; http://www.vaip.org.vn; http://ictvietnam. vn/; https://dx4sme.vn/

* TS. Ngô Tuấn Anh, ThS. Nguyễn Phạm Anh - Giảng viên Khoa Kinh tế học, Trường Đại học Kinh tế quốc dân

** Bài đăng Tạp chí Tài chính kỳ 1 tháng 5/2022